7. Điệp Con Cúng Cho Cha II
(Tư Độ Vãng Sanh)
Nguyên văn:
資度往生 爲牒薦事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、家居奉
佛修香諷經...之晨祈超度事。今... 等、維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于
奉爲...之香靈。
嗚呼、叨爲人子、感荷父親、恩深百世以無忘、德厚千秋而不忽、歲流序邁、寸心至薄以何酬、陰慘陽舒、一念至誠而預薦、奉先念念、寔無終始之殊、報本拳拳、豈何存亡之異、痛惟親父、薦此齋筵。兹者... 今則法筵初啟、牒札載陳、付香靈而永受洪庥、均沐慈悲之澤、安亡魂而超昇淨土、早登極樂之邦、長瞻佛日之輝、永受河沙之福。
須至牒者。
右牒薦
香靈冥中收執。故牒。
歲次...年...月...日時 、請薦牒
Phiên âm:
Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ... đẳng, cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:
Phụng vị ... chi hương linh.
Ô hô ! Thao vi nhân tử, cảm hà phụ thân; ân thâm bách thế dĩ vô vong, đức hậu thiên thu nhi bất hốt; tuế lưu tự mại, thốn tâm1 chí bạc dĩ hà thù; âm thảm dương thư, nhất niệm chí thành nhi dự tiến; phụng tiên2 niệm niệm, thật vô chung thỉ chi thù; báo bổn3 quyền quyền, khởi hà tồn vong chi dị; thống duy thân phụ, tiến thử trai diên. Tư giả ... kim tắc pháp diên4 sơ khải, điệp trát tải trần; phó hương linh nhi vĩnh thụ hồng hưu, quân mộc từ bi chi trạch; an vong hồn nhi siêu thăng Tịnh Độ, tảo đăng Cực Lạc chi bang; trường chiêm Phật nhật5 chi huy, vĩnh thọ hà sa chi phước. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Tiến
Hương linh minh trung thu chấp. Cố điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.
Dịch nghĩa:
Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.
Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:
Kính vì hương linh ...
Than ôi ! Làm thân con nhỏ, cảm nghĩa phụ thân; ơn sâu trăm kiếp cũng khó quên, đức cả ngàn thu luôn tưởng nhớ; tháng ngày thấm thoát, tấc lòng đạm bạc sao đáp đền; âm thảm dương sầu, một niệm chí thành mà hiến cúng; thờ người mỗi niệm, thật chẳng khác gì trước sau; báo đáp chăm chăm, há sao còn mất phân biệt; xót thương thân phụ, cúng cỗ chay nầy. Nay lúc … giờ đây pháp diên mới mở, điệp cúng dâng bày; giúp hương linh mà mãi được chở che, đều gội từ bi mưa móc; yên vong hồn mà siêu thăng Tịnh Độ, sớm lên Cực Lạc quê hương; ngắm nhìn trời Phật rạng soi, mãi nhận hà sa ơn phước. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh nơi cõi âm nhận lấy. Kính điệp.
Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Thốn tâm (寸心): có hai nghĩa chính. (1) Tấc lòng, chỉ tâm. Xưa kia người ta cho rằng tâm chỉ lớn nhỏ trong gang tấc, nên có tên là tấc lòng. Như trong bài thơ Ngẫu Đề (偶題) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường có câu: “Văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tri (文章千古事、得失寸心知, văn chương thiên cổ chuyện, được mất tấc lòng hay).” (2) Tâm sự, tâm nguyện. Như trong bài thơ Phùng Hiệp Giả (逢俠者) của Tiền Khởi (錢起, 710-782) nhà Đường có câu: “Thốn tâm ngôn bất tận, tiền lộ nhật tương tà (寸心言不盡、前路日將斜, tâm sự vô cùng tận, nẻo trước đã xế chiều).”
- Phụng tiên (奉先): có hai nghĩa chính. (1) Thờ cúng tổ tiên. Như trong bài thơ Trung Nguyên Hồi Gia Bái Tế Cảm Hoài (中元回家拜祭感懷) của Lô Kì (盧琦, 1306-1362) nhà Nguyên có đoạn: “Thất nguyệt thập ngũ nhật nguyệt chánh viên, Trung Nguyên di tục tri phụng tiên (七月十五日月正圓、中元遺俗知奉先, ngày Rằm tháng bảy trăng tròn xoe, Trung Nguyên tục lệ cúng tổ tiên).” (2) Tên cấm quân dưới thời nhà Tống.
- Báo bổn (報本): tức báo bổn phản thỉ (報本反始), nghĩa là thọ ơn và luôn nghĩ đến việc báo đáp, không khi nào quên nguồn gốc ơn nghĩa; tức nghĩa là báo ơn, đáp ơn, trả ơn. Như trong bài Cố Lễ Bộ Tả Thị Lang Tiết Tuyên Tùng Tự Nghị (故禮部左侍郎薛瑄從祀議) của Đường Thuận Chi (唐順之, 1507-1560) nhà Minh có đoạn: “Tế chi vi ngôn báo dã, dĩ báo bổn nhi phản kỳ thỉ dã (祭之爲言報也、以報本而反其始也, cúng tế được gọi là báo đáp, lấy việc báo ơn để đáp trả gốc ban đầu vậy).”
- Pháp diên (法筵): tức chỗ ngồi của người giảng kinh, thuyết pháp, từ đó có nghĩa là đạo tràng thuyết pháp. Như trong Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh (大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經, Taishō Vol. 19, No. 945) quyển 1 có đoạn: “Tức thời Như Lai phu tòa yến an, vị chư hội trung tuyên thị thâm áo, pháp diên thanh chúng đắc vị tằng hữu (卽時如來敷座宴安、爲諸會中宣示深奧、法筵清眾得未曾有, ngay lúc ấy đức Như Lai trãi tòa ngồi yên, vì trong hội chúng tuyên bày áo nghĩa, đạo tràng chúng thanh tịnh đạt được điều chưa từng có).” Hay trong Nam Thạch Văn Tú Thiền Sư Ngữ Lục (南石文琇禪師語錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 71, No. 1422) quyển 1 lại có đoạn: “Pháp diên dĩ khải, pháp cổ dĩ minh, tứ chúng vân lâm, thỉnh sư Chúc Thánh (法筵已啟、法鼓已鳴、四眾雲臨、請師祝聖, đạo tràng thuyết pháp đã mở, trống pháp đã gióng lên, bốn chúng tập trung, thỉnh sư hành lễ Chúc Thánh).” Hoặc trong Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Đại Trai Phổ Lợi Đạo Tràng Tánh Tướng Thông Luận (法界聖凡水陸大齋普利道塲性相通論, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1498) quyển 2 cũng có đoạn: “Ngưỡng kỳ Tam Bảo, bất xả từ bi, cao xử pháp diên, chứng minh công đức (仰祈三寶、不捨慈悲、高處法筵、證明功德, ngưỡng cầu Tam Bảo, không bỏ từ bi, ngự trên pháp diên, chứng minh công đức).”
- Phật nhật (佛日): từ dùng để ví dụ đức Phật là mặt trời và cũng là từ kính xưng đối với Ngài. Giống như mặt trời thường chiếu sáng phá tan đi sự tăm tối, đức Phật là người chiếu phá mê vọng của chúng sanh và làm cho họ được chứng ngộ. Như trong Phật Thuyết Như Lai Bất Tư Nghì Bí Mật Đại Thừa Kinh (佛說如來不思議祕密大乘經, Taishō Vol. 11, No. 312) quyển 15 có câu: “Liên hoa khai giác chúng sở quy, Phật nhật quang minh nguyện lai giáng (蓮華開覺眾所歸、佛日光明願來降, hoa sen bày giác ngộ chúng nương theo, mặt trời Phật sáng tỏ nguyện giáng xuống).” Hay trong Phật Bản Hạnh Kinh (佛本行經, Taishō Vol. 4, No. 193) quyển 7, Đại Diệt Phẩm (大滅品) thứ 29 cũng có câu: “Tích Phật nhật hiện huy, linh thiên địa phổ minh (昔佛日現耀、令天地普明, xưa mặt trời Phật hiện rực rỡ, khiến trời đất sáng chói cùng khắp).” Trong bài thơ Hòa Bùi Địch Đăng Tân Tân Tự Ký Vương Thị Lang (和裴迪登新津寺寄王侍郎) của Đỗ Phủ (杜甫, 712-770) nhà Đường lại có câu: “Lão phu tham Phật nhật, tùy ý túc tăng phòng (老夫貪佛日、隨意宿僧房, lão phu thèm gặp Phật, tùy ý trú tăng phòng).”